Và tôi nhận ra rằng trong cuộc đời này ta không cần, và tốt nhất là không nên lên kế hoạch chi tiết cho cuộc sống của mình. Thay vào đó ta chỉ cần phác họa cho nó vài ý tưởng dù mơ hồ thôi cũng được, nhưng mỗi khi nghĩ đến nó, nhắm mắt lại bạn cảm thấy lan tỏa trong mình một không khí dễ chịu, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi bạn thấy mình bay lên. Không cần vội vã hay quá quyết liệt, hãy cứ bình thản thôi, hít thở và đón nhận những điều xảy ra hàng ngày. Nếu ý tưởng của bạn đủ lương thiện, duyên số sẽ tới như cuộc hội ngộ duyên lành gieo nhân đến ngày đủ chín. Bạn biết khi đó mọi thứ xảy ra không còn là tình cờ nữa mà nói như Paulo Coelho trong Nhà giả kim “khi anh quyết chí muốn điều gì thì toàn vũ trụ sẽ chung sức để anh đạt được điều ấy.” Chỉ cần bạn còn vẹn nguyên ý tưởng đó trong đầu, thi thoảng đem ra gặm nhấm và mộng mơ.

Lang thang giữa những ngày đầu đông nơi vùng núi cao địa đầu Tổ Quốc, ngắm nghía váy áo sặc sỡ của các dân tộc thiểu số xa xôi, sự cô đơn chen lẫn tự hào khiến con tim bạn đôi khi khẽ lâng lâng, khiến bạn có cảm giác đang lạc vào một cơn mơ, một thế giới khác xa với cuộc sống thường nhật, ở một nơi mà từng bước chân bạn đi, từng hơi thở bạn hít vào cũng thấy người bay bổng, cũng thấy nhớ và cũng thấy thương dù chẳng thể phân định đấy là nhớ thương quê nhà hay thương nhớ chính mảnh đất này khi một ngày kia bạn sẽ ra đi. Chơi vơi giữa núi rừng cỏ cây, mở mắt hay bước chân ra là thấy bồng bềnh mây, xa xa là tiếng trẻ con líu lo bài hát tiếng Anh bạn vừa dạy mới tối qua thôi. Bất chợt bạn nhận ra hình như thiên đường là có thật, và lũ trẻ đang véo von kia nhất định là thiên thần.

Những thiên thần không dành để ôm.

Từ lâu tôi luôn bị cuốn hút bởi vẻ đẹp trẻ con vùng cao. Nét hồn nhiên, mộc mạc pha lẫn vẻ hoang dại của núi rừng, và đặc biệt là sự vô tư “đẹp nhưng không biết mình đẹp” rất khó tìm thấy ngày nay. Thường khi một người ý thức được mình đẹp, dù trẻ con hay người lớn thì trong họ hình thành sự kiêu hãnh nhất định, hoặc ít nhất trong mắt tôi là vậy. Đến với vùng núi cao, tôi được tự do chìm đắm trước vẻ đẹp không kiêu hãnh từ những đứa bé con sinh ra từ núi, rừng, sông, thác.img_1026

Sinh ra từ núi nên từ bé xíu xiu chúng đã quen thuộc với đất cát, cỏ cây. Bạn sẽ chẳng bao giờ bắt gặp một đứa trẻ đi ngay ngắn trên đường mà không chốc chốc lại lao như bay đến một tảng đá, nhảy lên trên ngắt một cành cây, vừa quất xuống đường vừa nhảy chân sáo, đi thêm đoạn ngắn thấy con dốc lẩn khuất sau bụi cây tiện chân trượt một cái xem tới đâu, cười giòn tan nếu chẳng may bị ngã, và cứ như thế cho đến khi nào về nhà. Mà thực ra về nhà hay không cũng tùy chúng nốt. Còn phải tạt qua một quả đồi khác để í ới gọi nhau, rủ nhau trèo cây hái quả, tìm thêm vài cái dốc mà chúng gọi là “đường tắt” để lăn, lăn thỏa thích cho quần áo đen thui vẫn thấy chưa đủ, lại đi tìm lá cho lên miệng thổi làm khèn, chạy tung tăng đến một cái dốc cao để nhìn xem có ai ở dưới, hét vọng xuống “Hellooooo” rồi cùng nhau cười vang cả góc đồi. Ngay cả khi tối muộn, sương giăng dày đặc vẫn không ngăn cản chúng đùa nghịch, mỗi đứa một đèn pin, đứa cầm tay đứa đeo trên đầu như đèn thợ mỏ, rồi có cả đứa cầm theo vợt muỗi, lạnh và khuya mà vẫn cứ cười vang. Ngày đầu tiên bạn tôi đến chơi và chứng kiến, thấy lũ trẻ xách đèn pin đi học như thế, lũ bạn trầm ngâm “Tao thấy có lỗi với bản thân ngày xưa mỗi lần nghỉ học quá mày ạ!”

Những thiên thần sinh ra từ núi ấy lúc nào trông cũng lấm lem, quần áo ban sáng bố mẹ mặc vào người dù có màu gì thì đến cuối ngày đều tất thảy chuyển sang màu đất cát. Mái tóc tơ đứa nào cũng cháy nắng thành màu nâu vàng óng ánh mượt mà, nhưng chỉ sau một hồi đùa nghịch sẽ dính đầy rơm rạ, lá cây, cỏ lau.. kết với mồ hôi thành một mớ hỗn độn đáng yêu.

img_3540Mệt quá, nghỉ tí đã

Những ngày xa rời với nhịp sống phồn hoa chốn thành thị nhưng lại gần gũi với đất trời cỏ cây, tôi có thật nhiều thời gian để nghĩ về cuộc đời, về con người. Tôi tự hỏi “Đây có phải bọn trẻ con mà mỗi lần xem TV chúng ta lại rủ lòng thương xót, là bọn trẻ hay được lấy ra so sánh với lũ trẻ thành phố đầy đủ sung sướng?” Ở chính nơi đây, tôi thấy thương bọn trẻ thành phố hơn bao giờ hết. Chúng chẳng có đến bầu không khí trong lành để thở chứ đừng nói đến một con dốc để lăn. Chúng được chở che trong sự bao bọc của bố mẹ nhiều đến mức thui chột hẳn đi bản năng sinh tồn vốn sinh ra đã sẵn có trong người. Bọn trẻ ở đây đưa tôi từ hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Một hôm lên nhà Liên ăn cỗ, mèo con mới đẻ được vài tuần chạy đi chạy lại chẳng may bị dẫm vào, bất động. Người lớn bận bịu không để ý (và cũng một chút vô tâm!) chặc lưỡi “chắc nó chết rồi”. Vừa ăn cơm vừa đưa mắt nhìn ái ngại, tôi hoang mang không biết nên làm gì cho phải thì đã thấy con bé Liên, 10 tuổi, ăn vội bát cơm rồi từ từ tiến đến chỗ con mèo. Tác phong của nó không có gì là vội vàng hay sợ sệt, ngược lại: bình tĩnh và ân cần. Nó lấy một cái tăm, bẻ làm đôi, vạch miệng con mèo ra đặt vào giữa “để nó không cắn vào lưỡi chết cô ạ”, nhẹ nhàng đặt tay lên bụng nghe ngóng rồi ngẩng lên thông báo với mấy đứa bé vừa lại gần “nó vẫn còn sống”. Niềm vui lóe lên trong ánh mắt bọn trẻ, chúng bảo nhau khiêng con mèo đến bên bếp lửa để sưởi ấm rồi chia nhau đứa thì vuốt ve, đứa thì đi tìm mèo mẹ để chăm sóc cho mèo con. Vẫn là cái Liên 10 tuổi, khi đang ngồi xé lá chuối tết hình bánh chưng, thấy tiếng trẻ con khóc từ xa vọng lại, trái với vẻ bình thản lúc nãy, mặt hớt hơ hớt hải vừa lao đi vừa gọi em vì “cháu sợ em bị ngã ở ngoài suối”, một lúc sau đã thấy cõng em trên lưng thoăn thoắt chạy về, đặt em vào nhà, ra bếp lửa xem con mèo và bảo tôi dạy đếm đến 100 bằng tiếng Anh.

img_0422Liên cõng em qua cầu

Hôm khác đến nhà hai đứa sinh đôi Long Minh, Long Dương được mệnh danh nghịch nhất bản, vào nhà chưa kịp ngồi xuống đã thấy một thằng biến mất. Đứng lên đi tìm, thấy cảnh tượng Dương 5 tuổi cầm con dao to bằng một phần ba người nó, chạy vào vườn chém vài ba phát dứt khoát vào gốc mía. Lá mía dài che lấp cả khuôn mặt nhỏ thó, vài phút sau đã thấy nó thoăn thoắt tha cây mía dài lên sân, ngồi bệt xuống chặt ra thành bốn khúc gọn gàng, mang lên bàn đặt vào bốn góc cho hai thằng, chị gái và cô. Ngồi nghiêm chỉnh học cách chẻ mía bằng răng và ăn mía theo cách “người rừng” bọn chúng dạy, cảm giác trong đời chưa từng ăn được khẩu mía nào ngọt lịm lưỡi, lịm cả lòng đến như thế.

Rồi một hôm sang bản bên, vừa thấy con bé Phương rủ “Đi ăn quả đi” chưa hết lời đã thoăn thoắt trên con đường đất ngoằn ngoèo bao nhiêu là bụi rậm. Nó dẫn đầu đoàn toàn các cô lớn hơn, mái tóc màu râu ngô nhún nhảy như một người thủ lĩnh tí hon vừa đáng yêu vừa từng trải. “Đến rồi!” – cái giọng khàn khàn đặc biệt của con bé vang lên, chỉ cho chúng tôi cây hồng phía dưới bờ ruộng bậc thang, cái cây cao gầy, lưa thưa quả. Rảo bước mệt nhoài mới kịp vận tốc thủ lĩnh, ngẩng lên đã thấy con bé tót lên cây từ lúc nào không hay. Chúng tôi – những đứa trẻ thành phố chứng kiến người thủ lĩnh sáu tuổi của mình leo cây, tim đập thình thịch còn miệng thì không ngớt lo lắng “Cẩn thận không ngã!”, “Quả đấy xa khó lắm!”, “Thôi xuống đi không cần hái đâu” trong khi nó vẫn bặm môi rung cho quả hồng cuối cùng rơi xuống đất. Khi đã hái đủ số hồng cho tất cả, nó khéo léo đu cành leo xuống, tót đi nhặt từng quả khi nãy rơi đưa cho từng người một. Lúc này bọn trẻ thành phố chúng tôi mới thở phào yên tâm vì con bé đã hạ cánh an toàn, nhưng đồng thời tôi cũng thấy tội nghiệp cho chúng tôi: khi nó leo cây trước mắt chúng tôi chỉ thấy tai nạn, còn với nó chỉ thấy quả hồng. Lo lắng của chúng tôi là thừa thãi ngớ ngẩn bởi nó đã được trang bị đủ kĩ năng để tồn tại trong hoang dã, còn chúng tôi thì không.

img_1111Phương

Ở trong hoang dã chúng không chỉ biết kĩ năng sinh tồn mà điều làm tôi xúc động hơn cả là sự nhạy cảm, biết lắng nghe và quan tâm đến người xung quanh, đến mức khiến tôi giật mình vì mình còn chưa làm được như vậy. Như khi đang cùng nhau chạy nhảy trên những thửa ruộng bậc thang trong một chiều nắng đẹp, Hà Vi, 9 tuổi, chạy ngược lại phía tôi tìm hai đứa nhỏ tuổi nhất, hỏi chúng xem có tự đi bộ được đoạn có nhiều nước không, lập tức cõng một đứa trên lưng rồi lại lao vun vút. Vẫn là Hà Vi, một sáng trời mưa cùng hai đứa em sinh đôi sang đón tôi đi sinh nhật, chúng có hai cái ô: một ô to và lành lặn, một ô nhỏ và rách. Tôi cố ý chọn ô nhỏ rách nhường cho chúng ô to nhưng vừa đi được một đoạn con bé đã chạy lên, chìa ra cái ô to của nó ra “Cô dùng cái này!”, chưa kịp chờ tôi phản ứng nó đã tự cầm lấy ô rách, và lại lao đi.

img_2478Hai chị em với cái ô rách

Không chỉ quan tâm đến con người, Vi còn để ý đến loài vật và những điều rất nhỏ. Đang nắm tay nhau tung tăng trên đồi, bỗng thấy nó dừng lại sốt sắng “Con chó con kìa! Nó đang kêu vì không nhảy lên được bậc thang. Mình phải báo với chủ của nó” rồi lôi tay tôi bằng được để báo với chủ giúp con chó con. Ngồi đổ bim bim ra cái chiếu trước hiên nhà ăn, con mèo từ đâu đến lấy một miếng, đuổi mãi con mèo không đi, nó quay ra nói với chúng tôi: “Thôi cho con mèo ăn cùng mình cũng được!” Không chỉ có Vi, hầu hết bọn trẻ ở đây mỗi khi làm gì cũng biết nhìn xung quanh quan sát, lắng nghe. Đi ăn cỗ thấy hơi khát nước, tôi hỏi một đứa xem nhà có nước không thì nó bảo không. Tôi cũng quên luôn rồi ra ngoài nói chuyện điện thoại một lúc, xong xuôi quay vào giật mình thấy thằng bé cầm cốc nước đứng yên đằng sau, giải thích nó phải chạy xung quanh hỏi người lớn xem ở đâu có nước, lấy xong đứng đây chờ từ nãy vì cô đang nói điện thoại. Trong một lần tôi đem ít đồ chơi đến lớp, mỗi đứa được chọn một đồ vật mình thích. Nhưng vì lớp đông mà đồ chơi lại hạn chế nên thường thì đứa nào nhanh tay sẽ chọn được món đồ to hơn, đẹp hơn. Hôm sau ghé nhà Trưởng, 6 tuổi, mẹ cậu bé kể lại Trưởng mang về một con tê giác bé xíu, giữ khư khư trong túi áo, nói với mẹ “Có nhiều con to đẹp hơn nhưng con sợ bạn không có sẽ buồn nên con chọn con bé.” Nghe xong lặng cả người, ước gì mình cũng nghĩ được như đứa bé 6 tuổi.

Còn với Sơn lớp 6,vừa mới tiếp xúc đã đạt được danh hiệu “cậu bé có cách cư xử tuyệt vời nhất” trong lòng tôi, thì mỗi lời nói ra, mỗi hành động cậu làm đều ra dáng một người đàn ông đầy trách nhiệm trong gia đình với phong thái dịu dàng, chu đáo, lễ phép. Nó dịu dàng với em gái, hình ảnh Sơn đưa tay vén vén mấy sợi tóc trên mặt em mới ngọt ngào làm sao. Nó còn dịu dàng với… con chuột trên đường đi bắt được, nó kiếm một sợi dây buộc vào chân con chuột rồi khum khum tay mang con chuột đi theo, thi thoảng cất vào túi áo, một lúc lại mang ra vuốt ve. Lúc đầu tôi không dám đến gần con chuột ấy, nhưng chứng kiến sự chăm sóc tận tình của Sơn tôi quyết vượt qua nỗi sợ để xem con chuột và cuối cùng không hề ân hận với quyết định của mình. Bạn đã bao giờ yêu thương một chú chuột chưa?

img_2308Sơn với em gái và chú chuột

Đến nhà Sơn chơi, vừa ngồi xuống bên bếp lửa đã thấy cậu bê khay nước ra mời cô và bà uống, cả nhà ăn cơm bố mẹ chia nhau mỗi người một mâm tiện tiếp khách còn cậu bé thì chạy đi chạy lại xới cơm, múc canh, vừa ăn vừa bao quát xem mâm nào thiếu gì là đi lấy ngay thứ ấy. Hôm đó tôi phải ra về trước để kịp giờ dậy, vừa bước ra cửa được mấy bước đã thấy bóng đèn pin phía sau, ra là cậu bé sợ tôi đi đường núi tối không quen nên vội xách đèn đi theo, trước khi về còn bẽn lẽn “Hôm nào cô lại lên chơi.” Hôm sau tôi lại lên chơi, mang theo ít giấy gấp origami cho bọn trẻ, đến lúc về vừa ngó trước ngó sau đã không thấy đống đồ đâu. Sơn lém lỉnh “Em cất hết rồi, em đi cùng cô mang về nhé!” Túi đồ có nặng nhọc gì đâu, tôi bảo thôi để cô tự cầm cùng được nhưng cậu bé cứ nài nỉ rồi tủm tỉm “Nhưng em thích cầm giúp cô.” Ga-lăng như thế tôi biết phải từ chối sao?

Có rất nhiều lần khác bọn trẻ ở đây khiến tôi không có cách nào từ chối được. Chúng không bao giờ đòi hỏi hay nhõng nhẽo nhưng luôn biến tôi thành kẻ phải ngoan ngoãn làm theo. Một tối chủ nhật là ngày duy nhất tôi được nghỉ, tự nhiên có bốn năm đứa kéo sang nhà, mặt mũi hớn hở. Thấy chúng, tôi bất ngờ, nhắc hôm nay đã đến thứ hai đâu, các bạn nhớ nhầm buổi à thì cứ đứa này đùn đẩy đứa kia không trả lời. Mãi sau mới có đứa đại diện nói “Không phải, mà là ở nhà tự nhiên muốn đi học quá!” Bật cười trước lí do không thể đáng yêu hơn chúng đưa ra, tôi đi lấy giấy, bút màu, giấy màu cho chúng vẽ tranh và gấp giấy. Thế là từ hôm sau, tin tức được lan truyền, thi thoảng lại có vài đứa đến thỏ thẻ “Cô cho em gấp giấy” và sau vài buổi tôi quyết định thành lập luôn một lớp gấp giấy origami. Và đó là nơi tôi được chứng kiến những đứa trẻ kiên nhẫn nhất tôi từng gặp trong đời. Từ đứa nhỏ đến đứa lớn, không một đứa nào bỏ cuộc nếu gặp bước gấp khó. Chúng tỉ mẩn làm theo hướng dẫn, chăm chú nhìn tôi làm giúp nếu không làm được, giúp đỡ bạn nào đang loay hoay và luôn xin thêm giấy làm lại lần nữa cho nhớ. Buổi sau đến lớp còn tự hào khoe “Bây giờ cả lớp ở trên trường em biết gấp cái hộp hôm trước cô dạy rồi đấy!”

img_2331Lớp gấp giấyimg_2335Lớp gấp giấy

Không sao kể hết chuyện bọn trẻ vùng cao tuyệt vời ấy. Về sự sáng tạo được chúng nó sử dụng triệt để trong mọi tình huống. Chỉ từ một quả bóng con bé Ngọc Linh sau khi bị vỡ thì giữ lại đoạn cao su ở miệng bóng đeo vào tay làm nhẫn, còn Hà Vi được cho quả bóng thường đi kiếm ngay một đoạn cành cây mảnh, dài buộc quả bóng vào cho quả bóng lơ lửng như quả bóng bay. Thích thú trước những ý tưởng thông minh ấy, tôi ngỡ ra sự thiếu thốn chính ra là động lực ghê gớm để sáng tạo, và thiên nhiên đúng là nguồn nguyên liệu vô tận cho con người tự do sáng tạo. Cứ tưởng sinh ra lớn lên ở đâu người ta sẽ quen quang cảnh ở đấy và không thấy đẹp nữa nhưng bọn trẻ con này sau hành trình lăn lộn leo trèo, cứ đến một quả đồi mới quay lại nhìn xuống dưới thấy quang cảnh bao la lại suýt xoa với nhau “Đẹp thật!” rồi líu lo bắt tôi chụp ảnh. Hoang dã là vậy nhưng chúng lại là những đứa trẻ thực sự ngoan ngoãn. Trên đường đi vì không biết nên tôi rủ chúng hái chè thì chúng nói ngay “không phải của mình không được hái đâu”. Nếu đến ăn cơm ở nhà người khác không phải nhà mình bọn chúng chỉ lẳng lặng và cơm, người lớn gắp thức ăn gì thì ăn nấy. Chưa bao giờ tôi phải nhắc nhở về việc dọn đồ dùng học tập khi dùng xong: chúng tự khắc sắp xếp lại ngăn nắp, không lấy bất cứ đồ gì dù có thích hộp màu “từ Hà Nội” đẹp đến mấy, sau một thời gian ngồi kiểm lại thì không thiếu lấy một cái gọt bút chì nhỏ xíu. Duy nhất có một hôm một thằng bé chạy đến gặp tôi trình bày “Cô cho em mượn cái tẩy, mai em có tiết Mỹ Thuật mà em chưa có tẩy” tôi mới lấy ra cho nó luôn một cái.

Chỉ sau hai tuần rong ruổi với những “thiên thần không dành để ôm ấy” tôi đã gạt bỏ hết ngại ngần với vết lấm lem trên áo quần, mặt mũi để dang tay ôm lấy từng thiên thần vào lòng như ôm và hít ngửi mùi của rơm rạ, núi rừng, đất trời. Đáp lại tôi lúc nào cũng là những bàn tay bé xíu vòng qua người ôm tôi thật chặt, ban phát cho tôi thứ tình thương thuần khiết hoang dại giữa nơi đất khách quê người xa xôi mà lại quen thuộc như thể tôi đã sinh ra ở đây từ nhiều kiếp trước. Hơi ấm từ cái ôm đầy mùi cỏ cây vỗ về những năm tháng thiếu thốn thiên nhiên của đứa trẻ thành phố là tôi, xóa lấp cả nỗi sợ bẩn hết sức vớ vẩn của tôi từ ngày đầu mới đết. Đôi khi hết ôm, chúng lại tranh nhau nắm tay tôi dung dăng trên đồi và hát, giữa mây trắng xôm xốp và nhấp nhô một đồi thông xanh. Trong một khoảnh khắc, tôi thấy mình cũng là thiên thần, được bay lên, cao thật cao.

Thắc mắc không hiểu làm thế nào bọn trẻ ở đây có thể cư xử với các giá trị mà trẻ con thành phố rất ít đứa làm được như biết lắng nghe, quan tâm, chia sẻ… tôi thường hỏi các bố mẹ ở đây xem họ dạy con như thế nào để sau này mình sẽ học hỏi được gì chăng. Phần lớn người lớn đều không học hết cấp 3, họ chẳng bao giờ biết đến những quyển sách nuôi dạy con trên thị trường, nên khi được hỏi họ chỉ biết cười nói “Mình cứ quan tâm nhiều đến con, thấy con làm gì sai thì nhắc, không đánh đòn bao giờ đâu.” Và một điều bố mẹ hay lặp đi lặp lại đó là “dạy nó biết thương” và để miêu tả những đứa trẻ, họ ít khi ca ngợi con học giỏi hay thông minh, mà giá trị họ chú ý nhất là “biết thương.” Tôi nghĩ có lẽ điều cơ bản khác nhau trong cách dạy con của người ở đây so với thành phố là họ không cư xử với con mình như nó là trung tâm của vũ trụ nên ở chúng luôn có sự dè dặt nhất định với người lạ, luôn quan sát để ý đến người xung quanh nên dần học được cách biết nghĩ cho người khác thay vì ích kỉ chỉ biết bản thân mình. Có hôm đi ăn cỗ ở nhà mấy đứa trẻ con, đến nơi gặp anh chị em họ thì vui lắm. Tôi hơi mệt nên xin phép bà bọn trẻ đi về trước, bảo cứ để bọn chúng ở lại chơi về sau. Bà nhất định không cho, gọi ba chị em ra bảo “Đi về cùng cô giáo đi, cô giáo đi về một mình không vui tí nào đâu,” bọn chúng đưa mắt nhìn nhau, chần chừ một chút rồi quay lại vẫy vẫy mấy đứa ở lại. Một hôm khác sang ăn cỗ ở nhà ba đứa, uống vài chén rượu sắn thấy say say ngả lưng xuống giường của bọn trẻ, nằm lim dim thì đã thấy bà mang cái chăn bông đắp lên người, bố mẹ liên tục nhắc bọn trẻ không được làm ồn, không được gọi cô dậy, chỉ cần chúng nói hơi to một chút cũng bị mắng ngay. Trong giấc ngủ chập chờn tôi hiểu ra chính từ những quan tâm nhỏ nhặt như thế, người lớn đã tự làm gương để bọn trẻ làm theo và đó là chính là cách dạy thiết thực nhất.

Nói về người lớn ở đây thì lại là thật nhiều mẩu chuyện dễ thương không thể kể hết. Nhớ lại ngày đầu tiên còn lại mỗi mình giữa bản làng xa lạ, chưa hết mệt mỏi sau khi di chuyển quá nhiều đã bị choáng ngợp bởi bầu không khí rộn ràng và đầy …ma quỉ chuẩn bị cho lễ mừng thọ vào sáng mai. Trong ánh sáng nhập nhoạng tối tăm, tôi đi qua vài người đang ngồi gập, cắt, đóng dấu làm giấy cúng, một ông thầy bói ngồi ở giữa nhà lẩm bẩm những âm thanh đều đều rờn rợn, chốc chốc lại quăng vài ba cái thẻ gỗ xuống đất. Tiếng cười nói ngoài sân mang âm thanh của thứ ngôn ngữ tôi không hiểu càng làm cho tôi cảm thấy cô đơn, sợ sệt nên vừa đặt lưng xuống giường là chảy nước mắt. Sáng hôm sau cứ nằm mãi trong căn buồng tối tăm của mình, cứ định nằm thế cho hết ngày mặc cho bầu không khí náo nhiệt ngoài kia cứ trôi qua. Nhưng rồi những tiếng cười rộn rã cứ một lúc lại vang lên đầy mời gọi, tôi quyết định đánh liều mở tấm rèm bước ra xem, chẳng hề biết trước được phía sau tấm rèm là một thế giới kì diệu sắp chiếm trọn lấy trái tim mình. Một bầu không khí dễ chịu lan tỏa, từng nụ cười, ánh mắt thân thiện chào đón tôi đến với ngôi nhà của họ. Tôi đi quanh một luợt và ngồi lại bên mấy bà mấy cô đang giã bánh.

img_0198Làm bánh giày nhân đỗ nho nhe

Như nhận thấy sự rụt rè lúc ban đầu của tôi, bà nói “Ở đây không sợ buồn đâu, có bà vui tính lắm!” rồi phá lên cười một tràng sảng khoái. Bà giới thiệu tôi với bố mẹ bí thư, hai ông bà đều toát lên vẻ hiền hậu, rủ tôi ra lán ngắm cảnh và trò chuyện. Ông bà say sưa kể chuyện tình yêu của hai ông bà hồi trẻ, vẫn nhớ từng chi tiết rất nhỏ, bật cười nhớ lại “Hồi đó cưới nhau xong ngượng mãi mới nói chuyện với nhau, tận hơn 10 ngày mới ngủ với nhau đấy.” Ông đưa tôi đi xung quanh ngắm cảnh, kể cho tôi về Tân Phong nơi ông đã sinh ra và lớn lên, dậy cho tôi những từ tiếng Dao đầu tiên đầy tận tình, kiên nhẫn. Về sau này tôi mới biết ông đã nghiên cứu và viết rất nhiều sách, tự quay và làm đĩa ghi lại các nghi lễ, phong tục của người Dao như một nhà văn hóa đầy tâm huyết, làm tất cả chỉ vì đam mê và để lưu truyền cho các thế hệ sau. Học ngôn ngữ chính là đến gần với văn hóa của họ, có lẽ vì thế nên trong bữa trưa khi được mời rượu tôi cố gắng dõng dạc “hốp ti ton”* trước sự ngỡ ngàng của cả mâm, họ cười vang thích thú và không bắt tôi phải cạn ly như thường lệ nữa.

Cứ mỗi ngày qua đi tôi lại khám phá thêm một nét đáng yêu của con người nơi đây. Bữa nọ, tôi nổi hứng làm món trứng sốt cà chua sở trường ở nhà ai cũng thích. Vừa nếm thử cô chủ nhà hỏi “Con cho đường vào món này à?” tôi hí hửng “Vâng” đinh ninh cô hỏi để lần sau nấu theo thì cô nói “Cô ăn thấy hơi chán, con ăn hết đi nhé.” Lần đầu trong đời được nếm cảm giác bị chê thẳng vào mặt, tôi vừa bất ngờ nhưng cũng vừa buồn cười, nghĩ bụng xem ra cứ chê thẳng vào mặt nhau thế này có khi lại chẳng mất lòng nhau. Họ thật thà, thẳng thắn trong việc bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc nên ở cùng lâu ngày tôi cũng lây luôn tính thẳng thắn đó. Có hôm chú lên rừng tìm được dúm sâu măng (hơi giống con nhộng nhưng thân dài hơn, lớn lên thành con ong) đem về rang giòn, thoạt nhìn thì hơi sợ nhưng ăn thì vừa ngon vừa bùi, tôi gắp ăn ngấu nghiến. Mấy hôm sau, vừa đi rừng về cô đã khoe ngay “Hôm nay cô lại tìm được sâu măng, hôm trước trông con ăn ngon thấy vui lắm.”

img_1431Sâu măng

Họ để ý, quan tâm đến những chi tiết nhỏ, đến mọi người xung quanh trong mọi tình huống. Một hôm, cả nhà vừa ăn cơm trưa xong thì có hai người phụ nữ lớn tuổi đến. Hai người này tôi chưa thấy bao giờ, đoán chắc bà con xa ở đâu ghé thăm, tay mang theo túi trứng gà và vài mớ rau mới hái. Tôi vào ngủ trưa thì thấy nhà chủ lại bắt đầu xào nấu, sắp bát đũa ra và .. ăn cơm tiếp với hai vị khách lạ mặt này. Họ ăn cơm, uống rượu, cười nói rôm rả đến tận 5h chiều mới về. Vì không hiểu tiếng của họ nên tôi vẫn nghĩ đó là họ hàng đến thăm nhau, cho đến tối về cô chủ mới kể “Hai bà lúc nãy mới đào trộm cây thuốc nhà mình, nãy mang trứng với rau đến xin lỗi.” Đang há hốc mồm ngạc nhiên, cô kể tiếp “Sáng nay chú lên lán thì thấy một ông ngồi giữa vườn của mình đào cây. Chú hỏi: “Ơ đây là lán của tôi mà, sao anh lại ngồi đào?” thì anh ấy trả lời “Tôi có đào đâu, hôm qua có hai bà lên đây đào trước, giờ tôi lên xem còn gì sót lại thôi.” Chú hỏi hai bà nào thì anh kia khai luôn, sau đó gọi điện cho cô để cô xử lí. Hai cái bà ở ngay dưới làn nhà mình đấy! Cô tức quá gọi điện cho một bà, hỏi có phải hôm qua chị lên đào trộm thuốc nhà tôi không. Thế là bà ý nhận luôn nên cô bắt hôm nay phải sang nhà nói chuyện.” Và đó là lí do cho bữa cơm trưa lần hai cười nói đến tận 5h chiều. Ở đây họ đối đãi với kẻ trộm ngộ thật!

Khách đến nhà luôn luôn được mời cơm kể cả khi nhà ăn rồi sẽ nấu nồi khác, thức ăn khác bất kể khách là có là người dưng đi nữa. Còn nếu không phải bữa cơm thì nhà nào cũng có một bàn nước chè đặt ở ngoài sân chờ khách ghé qua. Chỉ sau một tuần ở đây, tôi đã làm quen với văn hóa trên đường đi từ nhà ra xã có thể được vẫy vào hoặc cứ tự nhiên dừng xe ở bất cứ nhà nào ven đường, ngồi xuống uống vài chén trà, rít điếu thuốc lào, bóc quả quýt múi bưởi để sẵn trên bàn, nói dăm ba câu chuyện rồi đi tiếp. Cả tháng sống ở đây tôi thiếu hẳn cảm giác tiêu tiền vì ở đây cái gì cũng sẵn có và miễn phí. Đói bụng trèo lên một đoạn núi xin quả chuối thì được cho cả nải, mà chuối ở đây là loại chuối rừng to bằng cả bắp tay. Đi đường khát thì đỗ xuống uống chè. Tôi lạ lẫm với cách sống của họ bao nhiêu thì họ cũng lạ lẫm với cuộc sống ở thành phố bấy nhiêu “Ở dưới xuôi nghe nói uống cốc chè cũng mất tiền phải không?” rồi chặc lưỡi kể cho nhau chuyện hôm nọ xuống huyện hút điếu thuốc lào mà có người ra thu tiền, chuyện ở Sapa trẻ con chụp ảnh cũng đòi tiền của khách ..ai nấy đều lắc đầu tỏ ý không thể nào chấp nhận được. Nhắc đến Sapa, tôi chợt hỏi: “Nhưng liệu bây giờ chỗ mình bắt đầu phát triển du lịch thì sau này có thu tiền uống chè như thế không?” thì một chị ngồi ngay bên cạnh, thường ngày vốn ít nói, nhìn thẳng vào mắt tôi quả quyết “Ai lấy tiền thì lấy, chị thì chị không bao giờ lấy đâu.”

Là người thành phố, ít nhiều trong chúng ta đều nghĩ cuộc sống “miền xuôi” mới văn minh, còn người “miền ngược” rừng rú nghèo khó chắc mong muốn được như chúng ta lắm. Nhưng lên đây lắng nghe họ chia sẻ thì mới biết hóa ra mình nhầm. Sống ở vùng núi cao, hầu hết người nơi đây đều ở nhà sàn tuy mỗi dân tộc lại có kiểu nhà sàn khác nhau. Ở trung tâm xã, nhà văn hóa hoặc một số nhà khá giả bắt đầu xây nhà gạch, nhưng rất nhiều nhà xây xong lại quay ra nhà sàn ở vì “Ở nhà gạch mệt lắm, vào nhà cứ phải cởi dép. Nhà của mình đi cả ủng lên giường cũng không có sao. Nhà gạch còn không có bếp củi, chẳng có chỗ để ngồi nói chuyện với nhau. Mà ở dưới xuôi hình như hàng xóm không hay sang nhà nhau chơi hả cháu?” Nói đến đây thì tôi hiểu. Cái bếp củi như là linh hồn của ngôi nhà người miền cao, mùa đông giá rét đi đâu về hoặc ai đến nhà cũng xuống cái bếp đầu tiên, bẻ vài cái đóm châm lên ngọn lửa đỏ rực để sưởi tay chân cho ấm. Thi thoảng có miếng thịt trâu, thịt lợn ngon họ lại treo lên trên để vài ngày đến vài tháng làm món thịt gác bếp. Phía dưới bếp ai đào được củ khoai, củ sắn lại vùi xuống cát để một lúc là được món khoai sắn nướng thơm lừng. Chính giữa bếp lúc không đun nấu người ta sẽ đặt một cái chảo to rồi tách từng hạt ngô ra rang cho chín tanh tách, người ngồi xung quanh khum khum tay lại chờ từng nhúm ngô vừa sưởi vừa ăn vừa trò chuyện, từng gương mặt ửng hồng bên khói bếp. Có bếp lửa, nên lòng người cũng ấm.

Đời sống mang tính cộng đồng quây quần là vậy nhưng khi chứng kiến những phân công họ tự qui định với nhau tôi mới thật sự ngỡ ngàng. Một buổi sáng sang nhà một chị học sinh chơi. Hôm đó trời nắng đẹp lại mất điện, chúng tôi mang mấy cái ghế ngồi trước hiên nhà ngắm cây cối, vườn tược và trò chuyện. Chị kể về những cây thuốc có sẵn trong vườn, về những cây ăn quả mùa nào thức nấy, về luống tam giác mạch anh chồng mới gieo chắc vài tháng nữa sẽ lên đẹp lắm. Nói đến đấy tôi mới nhớ ra ngó quanh xem anh chồng đâu thì thấy đang say sưa nấu nướng trong bếp. Tôi hỏi “Ở đây con trai lúc nào cũng nấu nướng hết à?” thì chị cười bảo “Không, ở đây hai vợ chồng mà ai có bạn đến chơi thì người còn lại sẽ nấu. Hôm nay bạn chị đến chơi thì anh nấu, lúc khác bạn anh đến thì chị nấu để người còn lại chơi với bạn.” Trời ơi, bình đẳng giới là đây chứ đâu! Không phải riêng nhà chị mới thế, lần nào đến nhà ai ăn cơm tôi cũng thấy đàn ông con trai xắn quần xắn áo làm đủ việc mà không bao giờ kêu ca hay than vãn. Không chỉ trong gia đình, giữa hàng xóm với nhau họ còn có tục lệ “đổi công”, ví dụ lần này tôi cày giúp chị 2 ngày thì sang tuần hoặc tháng sau chị sẽ lên rừng chặt củi giúp tôi 2 ngày. Các công việc và thời gian tự thỏa thuận miệng giữa các nhà với nhau, thường họ sẽ đi theo từng nhóm từ 2,3 người trở lên tùy việc, cứ lần lượt luân chuyển việc từ nhà này sang nhà khác, việc của nhà ai thì nhà đó nấu cơm trưa cho cả nhóm về ăn uống vui vẻ. Mỗi lần đổi công như thế không khí rất hồ hởi, không bao giờ có chuyện so đo việc nặng nhẹ và hình phạt trong thôn người dân rất sợ là “không được tham gia đổi công”, quả là minh chứng sống cho câu “Phép vua thua lệ làng”. Giữa núi rừng, các nhà sống thường cách xa nhau nhưng lại duy trì được trật tự rất đáng khâm phục.

Ngoài ra mặc dù ở vùng sâu vùng xa mà người dân ở đây có những tư tưởng khi nghe thấy tôi hết sức ngạc nhiên. Nghe cô chủ kể lại ngày xưa bố cô làm thầy cúng to (thầy chuyên cúng lễ lớn) nên nhà lúc nào cũng có thịt ăn (trả công thầy cúng bằng thịt, từ nửa con gà đến đùi lợn, tùy lễ). Ông vừa hiền lành lại đẹp trai nên ra ngoài nhiều người yêu lắm. Thế rồi có người một hôm đến mách với bà, khuyên bà phải cẩn thận giữ ông không là mất chồng. Bà không tức giận hay lo lắng, chỉ điềm đạm đáp “Ra ngoài là của người ta, về nhà là của mình thế là được rồi”. Lại có hai anh chị khác, học hết cấp ba học lực khá, đáng lẽ ra có thể tìm được công ăn việc làm ổn định ở huyện hoặc ở xã. Anh kể: “Hồi trước mới lấy nhau cũng đi tận Quảng Ninh, Nam Định làm công nhân kiếm tiền. Tiền thì kiếm được nhiều hơn thật nhưng đi một tháng chồng nhớ vợ, vợ nhớ chồng quá không chịu được thế là thôi quyết về hai đứa chăn nuôi trồng trọt. Có vất vả một chút nhưng được ở gần nhau. Quan trọng nhất là vui cô ạ.”

Trong bucket list** của tôi, cũng giống với đa số các bạn trẻ khác không thể thiếu “đi du lịch đến nhiều nơi trên thế giới”, bởi thế tôi thường hãnh diện khi cũng gọi là đi được kha khá. Nhưng chuyến đi đặc biệt này đã thay đổi tôi. Đi nhiều, ta cứ hão huyền ảo tưởng về sự từng trải trong đời mà không thể biết rằng chỉ lúc ta ở, đậm sâu với từng buổi chiều đi qua để ngấm cho hết một ngày không thể buồn hơn mới biết thế nào là một ngày vui. Cuộc đời ở đó, sau mỗi cánh cửa nhà chứ không phải cửa khách sạn hay khu nghỉ dưỡng sang trọng. Bởi trong một chuyến đi ngắn ngủi, rất khó để trải nghiệm được những tình huống đời thường, rất bình thường đối với người dân bản địa nhưng lại gây ấn tượng sâu sắc với bạn mà không một tour nào, sách vở nào ghi chép lại đầy đủ được. Đối với tôi đó là một buổi tối chủ nhật có một gia đình hàng xóm gồm bố, mẹ, con sang nhà tôi chơi thì đột nhiên cô chủ nhà lên cơn đau bụng dữ dội. Chị vợ nhà hàng xóm liền lấy chiếu giải ra giữa nhà xoa bụng cho cô. Thấy dấu hiệu không giảm, anh chồng và chú chủ nhà mỗi người một chân một tay đi lấy hộp dụng cụ y tế, một chậu nước, một tấm vải đặt ra giữa nhà. Chưa biết họ định làm gì thì cô chủ tự cởi hết áo ra, quằn quại. Hai người đàn ông lấy tấm vải quấn chặt nửa trên người từ vai xuống hết cánh tay, dùng chỉ quấn từng ngón tay lại thật chặt, anh hàng xóm vuốt ngược cả người cô chủ (không mặc áo!), vuốt xuống từng ngón tay để cho máu lưu thông rồi lấy kim chọc từng đầu ngón tay cho máu rỉ ra vài ba giọt vào chậu nước. Từng thao tác chính xác, chuyên nghiệp và khoảng nửa tiếng sau thì rất đông người trong thôn đến cùng với thầy cúng, dù đã tối muộn. Tôi hỏi anh hàng xóm làm như nãy để làm gì, ai dạy anh điều đó thì anh kể đấy là kiểu đánh gió của người ở đây, từ bé nhìn bố mẹ làm thì khắc biết. Ở đây xa trạm xá nên gần như ai cũng phải biết cách sơ cứu, không thì chết.

img_1433Đánh gió theo cách người Dao đỏ

Không cần phải đi đến nhiều nơi, mà chỉ cần sống thật sâu ở một hoặc một vài nơi nào đó. Ngay nơi mình sinh ra lớn lên cũng có bao điều mới lạ mỗi ngày chờ ta khám phá. Chúng ta đã đặt quá nhiều kì vọng vào việc “đi”, đến số lượng điểm đến, số lần “check-in” mà quên đi việc “ở” mới tạo nên sợi dây liên kết giữa ta và nơi chốn nào đó. Ở lại chốn rừng núi xa xôi ba tháng, tôi được mời về gần hết các nhà chơi, xem nhà cửa, các sinh hoạt đời thường của họ, được chiều chiều mỗi khi bọn trẻ con tan học lại chạy ùa sang nhà gấp giấy, vẽ tranh hoặc rủ nhau đi “khám phá”, leo núi, nhảy ruộng. Có những ngày mưa, mưa rừng dầm dề buồn thối ruột lại có chị học sinh rang lạc sẵn ở nhà, che ô mang sang, vừa ăn vừa hỏi các từ tiếng Anh đầy say sưa. Lại có ngày mưa buồn bã khác được mời đến nhà uống rượu, uống xong được bọn trẻ con kéo ra mảnh vườn phía sau chơi, hôm đó bọn trẻ bị phấn khích quá đà, nhảy múa hát ca để tôi quay video bên hai ngôi mộ có view hùng vĩ nhất tôi từng được chứng kiến. Có cơn mưa rào, nhớ nhà kinh khủng và chẳng muốn làm gì, đi đâu. Nhưng cũng có cơn mưa, cố lắm mới lết được ra ngoài chỉ để ngắm cỏ cây chìm vào sương, nhìn sương xóa núi thì mới cảm nhận rõ cái đẹp đa sắc của núi rừng.

img_1906Một buổi nhảy ruộng

Câu đầu tiên mọi người hỏi khi gặp tôi ở trên đấy là “Ở đây chắc buồn lắm!” và dù tôi có trả lời “Không” bao nhiêu thì họ cũng không chịu tin. Buồn làm sao được khi cứ mấy ngày tôi lại được mời đủ các lễ hội của người dân ở đây: Lễ “ăn bánh” là bữa cỗ sau khi mùa màng thu hoạch xong để cảm tạ tổ tiên đất trời, các nhà sẽ làm bánh dày từ gạo nếp mới thu hoạch, múc thìa đỗ nho nhe (cái tên nghe thật ngộ) làm nhân và có thể rắc chút muối vừng ra ngoài; “Ngày hội đại đoàn kết dân tộc” nơi tổ chức các trò chơi dân gian các thanh niên thi thố cùng nhau; thậm chí tôi còn được mời đến dự Liên hoan tổng kết năm của Hội người cao tuổi và Hội cựu chiến binh chỉ vì “Ai cũng mong cô giáo đến!” Còn khi cô giáo muốn được đi đâu đó thì lại là chuyện khác. Hôm ấy có đoàn làm phim định lên đỉnh núi chỗ tôi ở quay phóng sự, bà hỏi tôi có muốn đi cùng không. Nghe danh đỉnh núi ấy từ hôm mới đến, tôi bảo với bà rằng cháu muốn đi lắm. Bà liền gọi điện cho ông đi cùng đoàn quay phim nhưng ông bao chưa chắc mai ô tô đã đi qua nhà tôi. Sang ngày hôm sau, đinh ninh không được đi cùng nên tôi cũng quên luôn đi làm việc khác thì tự nhiên có điện thoại từ anh cán bộ dự án “Nghe nói cô giáo muốn lên núi, cô chuẩn bị đồ 10 phút nữa có anh Chủ tịch xã sang đưa cô đi.” Lúc đấy không hiểu chuyện gì xảy ra mà thông tin đã đến được khắp bản như thế. Mãi sau mới biết sáng hôm đó bà đi họp thôn, lên trước cuộc họp trình bày là cô giáo muốn đi lên núi quá mà không biết đi thế nào. Anh chủ tịch dự cuộc họp nghe thấy vậy bảo bà lát cháu sẽ sang đèo cô giáo đi. Được chiều như này, sướng như tiên, làm sao buồn nổi!

img_0676Anh chủ tịch

Ngày bé vẫn luôn có ước mơ được trở nên nổi tiếng trong mắt một lượng người lớn nhưng rồi mới biết trở nên nhỏ bé nhưng được bao bọc trong một tộc người cũng nhỏ bé mới thấy ấm áp, biết ơn cuộc đời đã mang mình tới vùng đất xa thật xa của quê hương, được thương bởi những người hoàn toàn xa lạ để hiểu sâu sắc rằng có xa đến đâu, tìm kiếm gì đi nữa cũng không thoát khỏi gốc gác quê hương. Chưa bao giờ, ở đâu tôi thấm thía trọn vẹn chữ “thương” đến như vậy. Chữ “thương” của người vùng cao không ngọt ngào như chữ thương của người Sài Gòn nhưng lại ấp ủ trong đó tình cảm thuần khiết mộc mạc, chân thành của người dân nơi đây. Thậm chí đến cả con chó ở đây cũng biết thương. Từ ngày tôi đến cho đến khi về, bất kể cứ ra khỏi nhà là hai con chó lại đi theo, như sợ tôi bị lạc. Có hôm tôi tiễn bạn đi bộ về xã khác cách 20km, tôi chỉ đi gần nửa đường rồi quay lại thì con chó mẹ cứ đi theo bạn tôi, còn chó con quay lại với tôi. Chúng như chia nhau ra để bảo vệ mỗi người. Bạn tôi về nhắn tin hỏi con mẹ về chưa, kể “đang đi đường có con chó từ đâu lao ra, may mà có con mẹ đi cùng không chắc em chết. Em tin là nếu không có con kia thì con mẹ sẽ cùng em đi về tận nhà.”

img_2270Bạn đồng hành

Tôi cảm nhận được chữ “thương” vào một sáng rét mướt còn đang trùm chăn thì thấy bà sù sụ áo khoác tím kéo rèm vào đứng cạnh giường gọi “Bà lên huyện ở nhà chú On để trông nhà cho chú. Bà không ở nhà giúp con được bà thương con lắm!” rồi đưa tay quệt nước mắt. Mấy hôm về thăm nhà bà lại bảo “Hai tuần nữa con về rồi à, bà không cho về đâu,” tôi trêu “Thế ở lại bà có nuôi cháu không?” bà đáp ngay “Có, bà nuôi được. Nếu mà không còn gạo để ăn thì đi đào khoai đào sắn cho con ăn.” Tôi còn xúc động trước chữ “thương” buổi tối nhảy lửa trên đỉnh Chiêu Lầu Thi tôi bị chút xây xát nhẹ, có anh thanh niên trai tráng vừa đi chặt củi về rồi lúc củi cháy thành than nhảy vào giữa đám lửa đang cháy (một nghi lễ truyền thống của người Dao đỏ), lúc trước vừa hừng hực khí thế mà vừa nhảy xong đã nhỏ nhẹ tìm tôi hỏi han xem có bị sao không, rồi nói chuyện với nhau “Hôm nay cô đi chơi mà bị đen tội nghiệp thật, thấy thương quá!” Tin tức ở đây có mức độ lan truyền chóng mặt, đến lúc về cả đoàn hơn bốn mươi người ai cũng biết về vết xây xát của tôi, ai cũng hỏi thăm và nhắc mãi đến tuần sau.

Chữ “thương” ấy không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn bằng những hành động. Trước khi tôi về lại Hà Nội, trong vòng một tuần liền gần như ngày nào cũng có nhà làm liên hoan tổng kết. Có người mời sang nhà ăn bữa lẩu chỉ có rau và trứng, để “Cảm ơn cô giáo đã dạy cho hai con của anh”, chú chủ nhà đi chợ huyện làm bữa lẩu cá chép, hai gia đình chung nhau con ngan to mời tôi lên núi “để bù lần trước cô bị đen”, đến chiều cuối cùng gặp một anh đầu dốc, anh trách mai về rồi mà chưa lên nhà anh lần nào, tôi bảo vậy thì lên cho biết nhà thôi nhưng vừa ngồi xuống đã thấy anh ra bắt con ngan làm thịt, trong bữa cơm tôi cảm ơn vì nhiệt tình quá còn anh thì cứ “nhà chẳng có gì mời cô”. Tổng kết không thể nào thiếu rượu, thế nên sau vài chén lại được nghe những lời bộc bạch chân tình lắm. Có chị bình thường ở lớp không nói chuyện với tôi bao giờ, đến lúc say mới bộc bạch chị có nỗi khổ riêng lấy nhau mười năm rồi mà chưa có con, chạy chữa khắp nơi mà vẫn chưa được nên lúc nào cũng mặc cảm với bản thân không làm tròn bổn phận của người phụ nữ. Có anh hàng ngày lúc nào cũng hiền lành hòa nhã nhưng đã từng bỏ nhà ra đi mấy tháng liền vì bí bách chuyện phải ở rể, đi mãi không liên lạc gì với gia đình cho đến hôm tự mò về vì “ở nhà vợ anh thuê đâu được thầy cúng giỏi lắm”. Sau vài chén rượu đôi lúc tôi cũng ngà ngà, cũng ngấm được chữ “thương” của đồng bào miền cao mà thổ lộ tâm tình “Thôi mà, em thương chị lắm,” hay “Em sẽ nhớ mọi người nhiều lắm, mọi người tốt với em quá!” Các anh chị dặn tôi thi thoảng quay về đây như là đi du lịch nhưng tôi bảo không, em sẽ về đây như về quê có được không? Bố Hà Vi kể hôm trước đang ăn cơm mẹ nói cô giáo sắp về rồi thế là nó đang ăn chảy luôn nước mắt. Sao mà thương…

Chỉ cần nhắm mắt lại tôi thấy mình chìm vào màn sương dày đặc buốt giá của núi rừng, đứng bất động ngắm nhìn những cái lưng bé xíu phát ra thứ ánh sáng tươi vui nơi màn đêm chỉ một màu trắng đục. Tôi cứ đứng như thế, dường như là nín thở lắng nghe từng âm thanh ríu rít phát ra: tiếng Dao, tiếng Mông, tiếng Nùng, tiếng phổ thông xen lẫn tiếng Anh, cả tiếng núi rừng âm u và tiếng của đêm tĩnh mịch. Âm thanh cứ một lúc lại nhỏ lại, vang vẳng sau con dốc cao ngút quanh co, mang theo những cái lưng bé xíu mất hút vào màn sương ngày một dày thêm. Chừng đấy buổi học là chừng đấy lần tôi đứng lặng yên như thế. Một giọt nước từ đâu khẽ rơi xuống, đánh thức tôi khỏi trạng thái bất động chẳng biết từ bao giờ. Tôi đưa tay gạt đi giọt nước mằn mặn trên gò má, thu xếp đồ dùng, bật đèn pin rồi đi về phía nhà phảng phất mùi bếp củi. Quang cảnh này, mùi vị này, âm thanh tiếng động này, tôi biết trong suốt cuộc đời còn lại của mình tôi sẽ chẳng thể quên được nữa.

Mất hơn hai tuần để tôi viết tới những dòng cuối cùng này. Đây có thể là một trong những câu chuyện dài nhất, khó khăn nhất để tôi viết xong bởi tôi luôn ở trong tình trạng phải dừng lại giữa chừng. Vì nhớ. Mùi núi rừng ám ảnh khắp không gian xung quanh, bàn tay trẻ con nắm chặt lấy tay tôi, tranh giành nhau để được đi cạnh, tin nhắn của mẹ Hà Vi “hôm em về rồi con Hà Vi buồn lắm, không muốn ăn cơm”, cái đuôi con chó con ngoáy tít với cặp mắt ngây thơ mỗi lần vào phòng xin ăn, cái cây mềm mại mà vững chãi hiên ngang giữa ruộng bậc thang trải dài thênh thang, cái dốc với khúc cua dựng đứng với cái quán nhỏ nhà con bé Pàng lúc nào cũng treo váy áo người Mông rực rỡ, khuôn mặt nó xinh xắn ngày nào cũng tươi cười mỗi lần tôi đi qua mà đến ngày cuối thì buồn rười rượi như chực khóc. Cảnh vật cứ thế hiền hiện trong đầu tôi cả lúc thức lẫn lúc mơ, chẳng thể nào thoát ra được.

Rồi tôi thấy mình thơ thẩn một mình bên những gốc chè shan tuyết trăm tuổi, thầm thì với cây rằng tôi sẽ nhớ cây nhiều lắm khi tôi về thủ đô. Tôi cố hái thật nhiều lá để về nấu chè, nhưng càng hái nhiều bao nhiêu thì tôi càng nhận ra bao nhiêu cũng là không đủ. Hàng nghìn bức ảnh tôi cố chụp cũng là không đủ. Tôi dừng lại, không hái thêm một lá chè nào nữa, và lắng nghe, ngắm nhìn, ngửi và bước đi. Không. Không ai có thể ôm trọn cả núi rừng trong tay để mà nâng niu gìn giữ. Người vùng cao không ai chỉ vào cả quả núi và nói “Quả núi này là của tôi”, “Cánh rừng này là của tôi” để khẳng định quyền sở hữu của mình mặc cho họ lên đó hàng ngày, trồng cây hay lấy củi hàng ngày. Trong một khoảnh khắc thoáng qua, tôi nhận ra khi mình buông xuôi tất cả lại là khi mình có được tất cả. Bản chất của cuộc sống không nằm ở diễn biến, của sự qua đi hay sắp tới. Con người, giống như những bông hoa hay một cái cây mà ở đó mỗi sự kiện xảy ra, mỗi người họ gặp giống như gió, nước, không khí… Nếu biết vậy hẳn chúng ta sẽ đỡ buồn hơn bởi chẳng có bao giờ là kết thúc. Ta không để lại gì phía sau cũng chẳng phải lo có gì phía trước. Ngày hôm qua không hẳn là đã qua, nó ngấm vào người như đất nuôi dưỡng cây, nếu nhìn qua thì sẽ không thấy nhưng thực tế cây của hôm nay đã không còn là cây của hôm qua nữa. Kỉ niệm cũng giống vậy. Nó nuôi lớn bạn, dù chẳng thể thấy bằng mắt thường nhưng trong từng nhịp đập của trái tim, từng tế bào sống của cơ thể đều cảm nhận được vị mặn của giọt nước mắt, vị đau của sự chia ly và tình thương giữa con người với thiên nhiên, con người với con người. Rồi một ngày kia bạn nhận ra chẳng có gì phải buồn cả, ngày hôm qua hiện hữu trong bạn của ngày hôm nay, từng phút từng giây. Không có ai và chẳng có gì bị trôi vào quên lãng, nên ta chỉ việc bước đi và mỉm cười bởi sau một chuyến hành trình nhỏ giữa dòng chảy cuộc đời, ta đã biết thương và được thương.

Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến tổ chức CRED/HELVETAS Vietnam đã mang đến cho tôi trải nghiệm tuyệt vời này!

Đỗ Thanh Thu - Giáo viên tiếng Anh tình nguyện tổ chức CRED